YouTube Facebook RSS Reset

ESTE – LIPIT – KHÁI NIỆM XÀ PHÒNG VÀ CHẤT TẨY RỬA TỔNG HỢP

thư viện đề thi toán học

Dehoa.net – thư viện đề thi hóa học giới thiệu các bạn ESTE – LIPIT – KHÁI NIỆM XÀ PHÒNG VÀ CHẤT TẨY RỬA TỔNG HỢP

Download đề thi và đáp án

Download đề thi và đáp án

——————————————————————

 

TIẾT 1:   ESTE – LIPIT – KHÁI NIỆM XÀ PHÒNG VÀ CHẤT TẨY RỬA TỔNG HỢP

 

A..ESTE

Este là sản phẩm của phản ứng este hoá giữa axit hưu cơ với ancol

I. Công thứ cấu tạo và danh pháp

1.Công thức cấu tạo

Este của axit cacboxylic đơn chức và ancol đơn chức có công thức cấu tạo chung:  R – COO – R1.

Gốc R và R1 có thể giống nhau hoặc khác nhau, có thể là gốc hidrocacbon no hoặc không no.

Công thức chung của este tạo thành từ axit cacboxylic no đơn chức và ancol no đơn chức là: CnH2nO2 (n≥2).

2. Danh pháp

Tên thông thường của este được gọi như sau: Tên gốc hidrocacbon của ancol + tên gốc axit có đuôi “at”.

Thí dụ: H – COO – CH3 Metyl formiat           CH3 – COO – CH3 Metyl axetat

CH3 – COO – C2H5 Etyl axetat          CH3 – CH2 – COO – C2H5 Etyl propinat

II. Tính chất vật lí

Este của axit cacboxylic thường là những xhất lỏng dễ bay hơi. Este sôi ở nhiệt độ thấp hơn so với các axit cacboxylic tạo lên các este đó, do không có lien kết hidro giữa các phân tử este.

Các este đèu nhẹ hơn nước, rất ít tan trong nước.

Đặc điểm của este là có mùi thơm dễ chịu, giống mùi quả chin. Thí dụ Etyl Fomiat có mùi quả táo, isomul axetat có mùi chuối chin, amyl propinat có mùi dứa chin…

III.Tính chất hoá học

Tính chất hoá học quan trọng nhất của este là phản ứng thuỷ phân (phản ứng với nước). Trong quá trình thuỷ phân được thực hiên trong dung dich axit hoặc bazơ.

Trong dung dịc axit: Đun nóng este với nước, có axit vô cơ xúc tác, phản ứng tạo ra axit cacboxylic và rượu. Nhưng cũng trong điều kiện đó, các axit cacboxylic và rượu lại phản ứng với nhau cho este. Thí dụ:

Phản ứng theo chiều từ trái sang phải là phản ứng thuỷ phân este, phản ứng theo chiều từ phải sang trái là phản ứng este hoá.

Vậy phản ứng thuỷ phân este trong dung dich axit là phản ưng thuận nghịch.

Trong dung dich bazơ: Đun nóng este trong dung dich natri hidroxit, phản ứng tạo ra muối của axit cacboxylic và rượu.

Thí dụ:

Đây là phản ứng không thuận nghịch vì không còn axit cacboxylic phản ứng với rượu đẻ tạo lại este. Phản ứng này được gọi là phản ứng xà phòng hoá.

IV. Ứng dụng

Trong công nghiệp thực phẩm, một số este có mùi thơm hoa quả, không độc, được dung để tăng them hương vị cho bánh kẹo, nước giải khát…

Trong công nghiệp mỹ phẩm, một số este có mùi thơm hấp dẫn được pha vào nước hoa, xà phòng thơm, kem bôi…

Nhiều este có khả năng hoà tan nhiều chất hữu cơ nên được dùng đẻ pha sơn.

Một số este là nguyên liệu để sản xuất sợi tổng hợp, thuỷ tinh hữu cơ

B.LIPIT

I. Trạng thái tự nhiên

Lipit, còn gọi là chất béo (tức dầu, mỡ động thực vật, thực vật) là một trong những thành phần cơ ban của cơ thể động vật, thực vật.

Ở động vật, lipit tập trung nhiều nhất trong mô mỡ. Ở thực vật, lipit tập trung nhiều trong hạt, quả…

II. Công thức cấu tạo của lipit

Khi thuỷ  phân lipit (chất béo) người ta thu được glixerol và các axit cacboxylic (còn gọi là axit béo). Mặt khác, khi đun nóng glixerol với các axit béo, lại thu được lipit. Vậy lipit (chất béo) là este của glixerol với các axit béo.

Công thức cấu tạo phân tử của lipit có thể viết: (RCOO)3C3H5

Trong phân tử lipit, gốc ancol phải là glixerin, gốc axit béo có thể khác nhau. Các axit béo là axit no hoặc không no.

Các axit béo no thường gặp là:

CH3 – (CH2)14 – COOH  Axit panmitic                                CH3 – (CH2)16 – COOH  Axit stearic

Các axit béo không no thường gặp là:

CH3 – (CH2)7 – CH = CH – (CH2)7 – COOH  Axit oleic

CH3 – (CH2)4 – CH = CH – CH2 – CH – CH – (CH2)7 – COOH  Axit lioleic

III. Tính chất vật lí của lipit

Ở nhiệt độ phòng, lipit động vật (mỡ), thường ở trạng thái rắn (mỡ bò, mỡ cừu…). Lipit loại này chứa chủ yếu các gốc axit béo nó. Một số ít lipit động vật ở trạng thái lỏng (dầu cá…), do thành phần gốc axit béo không no tăng lên.

Lipit thực vật (dầu thực vật) hầu hết ở trạng thái lỏng (dầu lạc, dầu dừa…) do chứa chủ yếu gốc axit béo không no.

Các lipit dều nhẹ hơn nước, không tan trong nứoc, nhưng tan nhiều trong chất hữu cơ benzene, xăng, clorofom…

IV. Tính chất hoá học của lipit

1.Phản ứng thuỷ phân và phản ứng xà phòng hoá

Tương tự các este khác, tính chất hoá học quan trọng nhất của lipit là phản ứng thuỷ phân.Có thể đun nóng lipit với nước có xúc tác, hoặc đun nóng lipit với nước trong nồi kín ở áp suất cao (25at) và nhiệt độ cao (220oC):

Phản ứng trên có đặc điểm thuận nghịch

Nếu đun nóng chat béo với dung dich kiềm sẽ thu được glixerin và hỗn hợp muối natri của các axit béo (gọi la xà phòng). Phản ưng xảy ra nhanh hơn và một chiều

2. Phản ứng cộng hidro (hidro hoá lỏng)

Đun nóng hỗn hợp lipit lỏng, có bột Ni xúc tác, trong nồi kín và dẫn vào đó dòng khí hidro có áp suất cao sẽ xảy ra hiện tưọng phản ứng cộng hidro vào gốc axit béo không no.

Kết quả là sau phản ứng thu được lipit ở trạng thái rắn. Phương pháp này được dung trong công nghiệp để biến một số dầu thành mỡ rắn, hoặc bơ nhân tạo có gí trị sử dụng cao hơn.

V. Sự chuyển hoá lipit trong cơ thể

Chất béo là một trong nhưng thành phần cơ bản trong thức ăn của người và nó giữ một vai trò quan trọng trong quá trinh dinh dưỡng. Khi bị oxi hoá chậm trong cơ thể, chất béo cung cấp nhiều năng lượng hơn chất đạm (protit) và chất bột (gluxit): 1gam chất béo cho khoàng 38,87 kJ trong khi đó 1gam chất đạm cho 23,41 kJ, còn 1gam chất bột cho khoảng 17,57 kJ .

Vì chất béo không tan trong nước,nên chúng không thể trực tiếp thấm qua mao trạng ruột đẻ di vào cơ thể. Nhờ có men của dịch tuỵ và dịch tràng, chất béo bị thuỷ phân thành glixerin và axit béo. Glixerin được hấp thụ trực tiếp, còn axit béo khi tác dụng vơi mật biến thành dạng tan và cũng được hấp thụ qua mao trạng ruột. Ở đó glixerin và axit béo lại kết hợp với nhau. Chất béo mới được tổng hợp di vào máu và chuyển vào mô mỡ. Từ các mô này, chất béo lại có thể di tới các mô và cơ quan khác. Ở đây các chất béo bị thuỷ phân và bị oxi hoá chậm thành khí cacbonic và hơi nước, đồng thời giải phóng năng lượng cung cấp cho sự hoạt động của cơ thể.

Khi ăn nhiều chất béo, hoặc khi chất béo trong cơ thể không dung được oxi hoá hết thì lượng con dư được tích lại thành những mô mỡ.

Dầu thực vật chứa nhiều axit béo không no.

Các chất béo này được cơ thể hấp thụ dễ dàng, không gây ra hiện tượng xơ cứng động mạch.

Dầu thực vật còn chứa một số sinh tố cần thiết cho cơ thể người. Thí dụ: dầu cọ chứa sinh tố A; Dầu ngô, dầu cám chứa sinh tố E; Dầu phôi ngô chứa sinh tố K.

C.KHÁI NIỆM VỀ XÀ PHỒNG VÀ CHẤT TẨY RỬA TỔNG HỢP

I. Khái niệm về xà phòng.

Khi đun nóng chất béo với dung dịch natri hidroxit (hoặc kali hiđroxit) ta thu glixerol và muối natri (hoặc kali) của các axit béo.

Hỗn hợp muối natri  (hoặc kali) của các axit béo được gọi là xà phòng.

Thành phần chủ yếu của xà phòng là muối natri của axit panmitic C15H31COONa và muối natri của axit strearic C17H35COONa.

II. Khái niệm về chất tẩy rửa tổng hợp.

Hiện nay ngoài phương pháp thuỷ phân dầu mỡ động vật để sản xuất xà phòng, người ta còn tổng hợp nhiều hợp chất không phải là muối natri của axit cacboxylic, nhưng có tác dụng tẩy rửa như xà phòng. Những hợp chất đó được gọi là các chất tẩy rửa tổng hợp (còn gọi là bột giặt tổng hợp hay xà phòng bột).

Thí dụ, Muối natri của axit đođexylbenzensunfunic C12H25 – C6H4 – SO3H được tổng hợp từ các sản phẩm dầu mỏ, sau đó cho axit này phản ứng với Na2CO3 ta thu được muối natri của nó.

2C12H25 – C6H4 – SO3H + Na2CO3 à C12H25 – C6H4 – SO3Na + H2O + CO2.

III. Tác dụng tẩy rửa của xà phòng và của chất tẩy rửa tổng hợp.

Xà phòng và chất tẩy rửa tổng hợp có tính chất hoạt động bề mặt cao. Chúng có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của các vết bẩn dầu mỡ bám trên dao động, vải, … do đó vết bẩn dầu mỡ được phân chia thành nhiều phần nhỏ hơn và được phân tán vào nước. Người ta đã sẻ dụng khả năng đó của xà phòng và chất tẩy rửa tổng hợ vào mục đích giặt rửa.

Không nên dùng xà phòng để giặt rửa trong nước cứng (nước có chứa các ion Ca2+, Mg2+, ….), vì phần lớn xà phòng sẽ mất tác dụng do kết tủa dưới dạng muối panmitat hoặc stearat canxit và magie.

Ưu điểm của bột giặt tổng hợp là có thể giặt rửa ngay cả trong nước cứng.

Nấu xà phòng.

Muốn điều chế xà phòng, nười ta đun nóng chất béo với dung dịch kiềm trong thùng lớn. Hỗn hợp các muối natri (xà phòng) sinh ra ở trạng thái keo. Muốn tách xà phòng ra khỏi hỗn hợp nước và glixerin, phải cho thêm muối ăn vào dung dịch.

Xà phòng natri rất ít tan trong nước muối, vì vậy chúng sẽ nổi lên thành một lớp đông đặc ở phía trên. Sau đó đem tháo riêng ra, để nguội, ép cho rắn thành bánh. Có thể thêm chất màu (không độc) hoặc chất thơm trước khi ép và đóng thành bánh.

Trong nhà máy điều chế xà phòng còn có công đoạn tách và tinh chế glixerin. Sau khi tách xà phòng dung dịch còn lại có chứa glixerin muối ăn và các tạp chất khác. Có thể xử lí bằng phương pháp hoá học trước để làm kết tủa tạp chất, lọc rồi đem chưng cất dưới áp suất thấp. Khi dung dịch đã đậm đặc, dung máy li tâm để thu hồi muối ăn, tiếp tục cất phân đoạn để thu lấy glixerin.

BÀI TẬP ESTE – LIPIT

No comments yet.

Leave a Comment